Nghĩ lại và tái tạo “Mình”.

1.”Mình”, “Sửu” và đạo lý hy sinh

Đầu năm Sửu, rất thích hợp để nhìn lại “mình” bởi về từ nguyên, “mình” chính là “sửu”. Giải thích hàm nghĩa của “mình” Đỗ Lai Thúy viết: “Tiếng mình mà chúng ta thường dùng ngày nay để tự xưng hay chỉ người vợ người chồng, hay bạn bè gọi nhau trong những hoàn cảnh thân mật vốn xuất phát từ tiếng cổ là min (Thôi đà cướp sống chồng min đi rồi – Truyện Kiều). Theo từ điển của Paulus Huỳnh Tịch Của, min là tên gọi loài trâu bò rừng. Đó là con vật đã từng nuôi sống người Việt cổ, rồi trở thành vật tổ của họ (vết tích: lễ đâm trâu ở Tây Nguyên, tục thờ trâu đất, tục ăn thịt trâu vào những ngày hội hè đình đám ở làng quê). Tự gọi mình là min, tự đồng nhất mình với con min (tên đệm văn ở người con trai (như: Nguyễn Văn… Trần Văn…), là nốt vằn, vết đâm trâu, một thứ hoa văn trên thân thể con vật hiến sinh) người Việt cổ xưa đã nêu cao đức hy sinh cá nhân mình cho sự an toàn và thịnh vượng của cộng đồng”[1]

Con trâu gắn kết mật thiết với cư dân nông nghiệp lúa nước ở nước ta từ xưa. Dân gian coi “con trâu là đầu cơ nghiệp”. Trong ba việc lớn của đời người thì “tậu trâu” là trước tiên, rồi mới đến “cưới vợ, làm nhà”[2]. Người ta đề cao con trâu, đúng như Đỗ Lai Thúy nói, là do đức hy sinh của nó. Đồng nhất mình với min, với trâu, người dân ta đề cao đức hy sinh của cá nhân cho cộng đồng. Tạm gọi đạo lý này là đạo lý min, hay đạo lý hy sinh. Đây là một đạo lý tốt đẹp của dân tộc. Đạo lý này chi phối cách hành xử của người Việt trong các quan hệ ở nhà, ở làng, ở nước. Trong nhà, người ta sống vì cha, vì mẹ, vì anh, vì em, vì vợ, vì chồng… Đối với làng, người ta sống vì hàng xóm. Đối với nước, người ta sống vì quan, vì vua, vì Tổ quốc. Đạo lý này đặc biệt phát huy sức mạnh trong kháng chiến chống giặc ngoại xâm. Đạo lý hy sinh cho cộng đồng đã tạo nên chủ nghĩa yêu nước của Việt Nam, sức mạnh giúp người Việt chiến thắng trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm.

2.Nghĩ lại “mình”

Thời nào thì sự hy sinh của cá nhân cho cộng đồng cũng được coi là chuẩn mực đạo đức được đề cao nhưng cực đoan hóa đạo lý này lại cản trở sự phát triển của cá nhân và của xã hội. Đạo lý hy sinh của cá nhân cho cộng đồng một mặt, nó tạo ra lối sống tình nghĩa vì người xung quanh, vì làng, vì nước; nhưng mặt khác, nó thủ tiêu cá nhân và chính điều này, đến lượt nó lại tạo ra những nhược điểm khác trong căn tính người Việt, làm cản trở quá trình hiện đại hóa con người Việt Nam, xã hội Việt Nam hiện nay.

Hy sinh mình cho cộng đồng đã được đẩy mạnh đến mức cá nhân chỉ còn nhận thấy giá trị trong quan hệ với người xung quanh. Tôi không phải là tôi mà là con, là cha, là anh, là em, là bà con, là dân…, là người ta. Chỉ trong quan hệ với người xung quanh tôi mới có chút giá trị. Giá trị của tôi không được xác định tự tại mà được xác định trong quan hệ với cộng đồng. Tôi mà là tôi thì là hèn kém. Chữ “tôi” vốn được dùng theo nghĩa hèn kém, tôi tớ, bề tôi. Chính vì vậy, từ xưa đến nay, người Việt vốn ít xưng tôi[3].

Nhiều người trong giới triết học, văn hóa học, sử học đã chỉ ra ý thức cá nhân của người Việt không phát triển[4]. Theo cách gọi của cố học giả Trần Đình Hượu thì con người Việt Nam, với tư cách là một con người Nho giáo hoá, là “con người chức năng trong xã hội luân thường”. “Trong xã hội luân thường, con người không phải là những cá nhân có thân thể, có dục vọng, có quyền lợi, có cá tính…, mà là những con người chức năng”[5]. Hai khái niệm con người chức năng và xã hội luân thường ở đây được Trần Đình Hượu dùng để chỉ con người không được chú ý để phát triển thành một nhân cách độc lập, có giá trị tự thân, tự tại, mà chỉ chú ý đến vị trí và chức năng của nó trong bộ máy xã hội. Con người chức năng trong xã hội luân thường không được phát triển lên thành những cá nhân, nhất là cá nhân hiện đại, tức là những cá nhân khẳng định được giá trị tự thân mà vẫn không đánh mất sự hài hoà với và trong cộng đồng[6].

Tuy nhiên, cá nhân luận hay chủ nghĩa cá nhân cũng đã được tiếp thu một cách bộ phận ở Việt Nam. Song, ý thức cá nhân của người Việt chưa thực sự phát triển vì những di ảnh của truyền thống, và những tàn dư của thời bao cấp. Điều này thể hiện rất đa dạng ở nhiều góc cạnh khác nhau của xã hội. Từ góc độ luật học, có thể nhận thấy hệ lụy của sự hạn chế ý thức cá nhân là cho đến hiện nay, người Việt vẫn chưa có một tinh thần công dân hoàn chỉnh.

Có thể nói rằng, Hiến pháp và luật pháp đã tạo ra những cơ sở pháp lý cần thiết cho tinh thần công dân phát triển. Công dân được hiểu là một cá nhân được thừa nhận những quyền công cộng căn bản và do đó, công dân của một nước dân chủ bình đẳng với công quyền. Xét theo đó, Hiến pháp đã liệt kê khá nhiều các quyền công cộng căn bản mà công dân một nước dân chủ cần phải có: từ các quyền chính trị, các quyền kinh tế, các quyền văn hóa – xã hội đến các quyền tự cá nhân. Mặc dù chưa đầy đủ nhưng nhiều đạo luật cụ thể hóa các quyền đó đã được Quốc hội cung cấp cho công dân: Luật Bầu cử, Luật Báo chí, Luật Xuất bản, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Lao động, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Doanh nghiệp, Luật Thương mại, Bộ luật Hình sự… Như vậy, vấn đề không phải là ta thiếu cơ sở pháp lý để hiện thực hóa tinh thần công dân.

Hiến pháp và luật pháp chỉ cung cấp những điều kiện cần thiết cho một tinh thần công dân. Hiện thực hóa điều đó chủ yếu dựa vào ý thức của người công dân. Và ý thức của người công dân lại phụ thuộc vào căn tính của dân tộc. Hiến pháp và luật pháp đã cung cấp những cơ sở pháp lý cần thiết, nhưng tinh thần công dân của người Việt chưa thực sự phát triển. Điều này phải tìm nguyên nhân chính yếu không phải ở cơ chế, hiến pháp, luật pháp, là ở căn tính dân tộc, đặc biệt là ở đạo lý min. Đạo lý min, đạo lý hy sinh vì cộng đồng có những sở trường nhưng cũng có những sở đoản cản trở việc hình thành con người mới Việt Nam – con người công dân, một thành tố thiết yếu của hiện đại hóa. Những sở đoạn của đạo lý min, xét trên phương diện tinh thần công dân, là làm cho người Việt thiếu nhân cách độc lập, thiếu tinh thần bình đẳng, thiếu tinh thần khoan dung, thiếu tinh thần pháp quyền. Vì trọng cộng đồng, nhân cách độc lập của cá nhân không được phát triển. Vì trọng cộng đồng, cá nhân vẫn thượng tôn quan quyền. Vì trọng cộng đồng, những sai biệt với cộng đồng không được ủng hộ. Vì trọng cộng đồng, cá nhân chưa chủ động sử dụng các quyền cá nhân hợp pháp của mình.

3. Tái tạo “mình”

Trước tiên cần phải xác định ngay rằng, muốn hiện đại hóa xã hội thì cần phải hiện đại hóa con người. Martin Lodo, một học giả Mỹ, nói: “Sự phồn vinh của một quốc gia không quyết định bởi quốc khố giàu có, không quyết định bởi thành quách phòng thủ kiên cố, cũng không quyết định bởi sự tráng lệ của những công trình công cộng, mà quyết định bởi tố chất giáo dưỡng của công dân, tức là nền giáo dục mà mọi người được tiếp thu, ở kiến thức sâu rộng và nhân cách của mọi người. Đó mới chính là sức mạnh thực sự, là nguyên khí thực sự của đất nước”[7]. Năm 1985, trong một bài phát biểu tại Hội nghị công tác giáo dục toàn quốc ở Trung Quốc, Đặng Tiểu Bình đã nói: “Đất nước chúng ta, thế lực mạnh hay yếu, tiềm lực phát triển kinh tế lớn hay nhỏ, càng ngày càng do tố chất của người lao động quyết định, do số lượng và chất lượng của người tri thức quyết định”. Inggơsi, một nhà nghiên cứu xã hội học người Mỹ, chuyên gia nghiên cứu về hiện đại hóa, từ năm 1962 đến năm 1964 đã điều tra xã hội học so sánh quy mô lớn ở 6 nước phát triển, mỗi nước phỏng vấn 1000 người, bao gồm nông dân, công nhân và các giai cấp khác. Kết luận chủ yếu sau cuộc điều tra của ông là:”Một quốc gia có thể làm cho nhân dân của họ thành con người hiện đại, quốc dân của họ về mặt tâm lý và hành vi chuyển biến thành nhân cách hiện đại, mọi người làm việc trong lĩnh vực chính trị, kinh tế và văn hóa đều có được tính hiện đại phù hợp với sự phát triển của hiện đại hóa, quốc gia như vậy mới có thể xứng đáng là quốc gia hiện đại hóa”[8].

Công cuộc hiện đại hóa xã hội Việt Nam hiện nay cũng phải dựa chính vào sự hiện đại hóa con người Việt Nam. Con người hiện đại Việt Nam phải là một con người công dân, không phải là một con người thần dân. Con người công dân đó phải đấu tranh để loại bỏ những căn tính của con người thần dân, hình thành những chuẩn mực mới: nhân cách độc lập, tinh thần bình đẳng, tinh thần khoan dung và tinh thần pháp quyền. Hiện đại hóa đòi hỏi sự tái tạo “mình”.

Nhân cách độc lập. Các xã hội công nghiệp và hiện đại trên thế giới đều có sự phát triển rất cao của nhân cách độc lập. Không có nhân cách độc lập, tài năng, tố chất của cá nhân không phát triển được và do vậy, xã hội cũng không phát triển. Giải Tư Trung, một học giả Trung Quốc, có một cách lý giải rất giản dị nhưng chính xác về nhân cách là “trạng thái tồn tại của cá nhân”. Nhân cách của một cá nhân cao hay thấp phải căn cứ vào trạng thái của anh ta để xác định. Nếu một người có thể giữ vững trạng thái tồn tại độc lập thì nhân cách của anh ta là toàn vẹn, có thể gọi là nhân cách độc lập, trái lại, nếu một người tồn tại là dựa vào người khác, nhân cách của anh ta không toàn vẹn, hay còn gọi là “nhân cách phụ thuộc”. Cái gọi là “giữ vững trạng thái tồn tại độc lập”, không giống như Robinson lạc vào hoang đảo, cũng không phải là kẻ cô độc bỏ đàn để sống một mình, mà là giữ vững tính độc lập về kinh tế và chính trị của mình trong xã hội quần thể[9]. Chỉ có nhân cách độc lập thì cá nhân mới được giải phóng, các nguồn lực trong xã hội mới được hanh thông. Nhờ vậy, xã hội có động lực để phát triển.

Trong xã hội cổ truyền ở Việt Nam, nhân cách của con người là nhân cách phụ thuộc. Cá nhân tan biến vào các quan hệ cộng đồng. Chế độ tập trung bao cấp ở Việt Nam càng góp phần tạo nên sự phụ thuộc của nhân cách: mọi người đều phụ thuộc vào người khác, phụ thuộc vào tập thể: hợp tác xã, xí nghiệp, Nhà nước… Chính vì điều này năng lực của cá nhân không được phát triển và hệ quả là xã hội trì trệ. Khi kinh tế thị trường mở ra, dần dần người ta nhận thấy vai trò của nhân cách độc lập. Kinh tế thị trường nhấn mạnh vai trò của cá nhân, đòi hỏi nhân cách độc lập và cạnh tranh bình đẳng. Chính vì vậy, cá nhân được giải phóng, xã hội có động lực để phát triển. Nhưng cá nhân chỉ mới được giải phóng về mặt cơ chế mà chưa được giải phóng về mặt tâm thức. Sự cá nhân hóa chỉ diễn ra ở một thiểu số, chưa phải là tâm thức chung của mọi người. Trong tâm thức chung của mọi người, giá trị con người vẫn không được xác định ở tự tại mà vẫn dựa vào sự phô diễn trong cộng đồng. Bệnh thành tích ở mọi ngành, mọi lĩnh vực, sự nể nang nhau, cách thức xử lý nội bộ, trọng bằng cấp hơn thực tài… cũng từ đó mà sinh ra.

Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay càng đòi hỏi sự phát triển toàn diện nhân cách độc lập. Quá trình này đòi hỏi một sự chuyển biến trong tâm thức về giá trị của con người. Abert Einstein nói: “Giá trị đích thực của một con người trước hết được xác định bởi anh đã đạt đến chỗ giải phóng khỏi cái Tôi đến mức nào và theo nghĩa gì”. Một sự nhận thức như vậy mới tạo động lực cho sự hiện đại hóa bởi: “Dễ nhận thấy rằng, trải qua bao thế hệ, tất thảy tài sản vật chất, tinh thần và đạo đức mà chúng ta nhận thức được từ cộng đồng đã được tạo dựng bởi những cá thể đơn lẻ: người tìm ra cách dùng lửa, người tìm ra cách trồng trọt và người phát minh ra máy hơi nước… Chỉ những cá thể đơn lẻ mới có thể tư duy và qua đó, tạo ra những giá trị mới cho xã hội… Nếu không có những cá thể sáng tạo, suy nghĩ và phán xét độc lập, thì sự phát triển lên cao của xã hội là khó tưởng tượng”[10].

Tinh thần bình đẳng. Bình đẳng là điểm xuất phát mà xã hội công dân quy định cho tất cả mọi chế độ xã hội, cũng là chuẩn mực xã hội mà đạo đức, pháp luật của xã hội công dân phải bảo vệ và hướng tới. Tinh thần công dân lấy bình đẳng làm hạt nhân giá trị, mà nền văn minh ý thức và văn minh tinh thần được sinh ra từ đó đại diện cho phương hướng văn hóa tiên tiến của loài người như: bác ái, nhân quyền, nhân đạo, tự do, dân chủ, ý thức và pháp trị độc lập, thành tín, khoan dung, hợp tác, khoa học, bảo vệ môi trường, tinh thần tín ngưỡng. Tinh thần bình đẳng giống như vầng thái dương mà khi đã có được nó thì sẽ bức xạ ra những ánh hào quang của những loại tinh thần trên[11]. Đây là quan niệm của một học giả Trung Quốc về những tố chất cần có trong nhân cách của người Trung Quốc trong tiến trình bước vào thế kỷ công dân, từ bỏ xã hội thần dân, rất đáng tham khảo cho Việt Nam bởi xã hội Việt Nam và xã hội Trung Quốc có nhiều điểm tương đồng về văn hóa, kinh tế, xã hội.

Cần nhận thức tinh thần bình đẳng trên phương diện pháp lý. Bình đẳng không phải là cào bằng, đánh đồng mọi người như nhau bởi con người sinh ra vốn khác nhau về năng lực do các yếu tố di truyền sinh học, hoàn cảnh sống khác nhau… Học giả Haryek nhấn mạnh: “Sự bình đẳng trong quy tắc pháp luật thông thường là sự bình đẳng duy nhất có thể trợ giúp cho tự do, cũng là loại bình đẳng duy nhất chúng ta có thể đảm bảo trong điều kiện không phá bỏ tự do. Tự do chẳng những không liên quan gì đến mọi sự bình đẳng khác, mà trên nhiều mặt nó còn sinh ra bất bình đẳng” (Nguyên lý trật tự tự do, 1997). Tinh thần bình đẳng phải được hiểu là, trước pháp luật mọi người đều như nhau.

Tinh thần bình đẳng trong xã hội Việt Nam cần được thúc đẩy, trước tiên, là trong quan hệ giữa Nhà nước và cá nhân. Mặc dù Hiến pháp đã tuyên bố sự bình đẳng giữa Nhà nước và cá nhân nhưng trong thực tế của xã hội, tinh thần này chưa thực sự ngự trị.”Trong các phiên thảo luận tại kỳ họp Quốc hội vừa rồi, các đại biểu nhẹ nhàng chê trách rằng cách mà chúng ta đối xử với hành vi phạm pháp có vẻ như “nhẹ trên, nặng dưới”; nặng đối với thường dân và nhẹ dần với các quan chức cấp cao. “Quân pháp bất vị thân”, hơn hai nghìn năm trước Hàn Phi đã cổ vũ cho việc pháp luật phải công bằng, không thể nhẹ với quan mà xử nặng với thường dân. Xem ra điều ấy vẫn chỉ là mơ ước, thể chế của chúng ta vẫn còn vài trở ngại, quan và dân chưa thật bình đẳng trước pháp luật, nhất là trước những hành vi phạm pháp…”[12]. Hiện trạng này bắt nguồn từ một tâm lý cố căn coi cá nhân là sở thuộc của Nhà nước và vì vậy cá nhân không được bình đẳng với Nhà nước. Trong xã hội xưa, “hình bất thướng đại phu”. Xem ra ngày nay không hoàn toàn như vậy, nhưng “hình” đến với “đại phu” không giống như đến với “thứ dân”. Xã hội công dân đỏi hỏi một tinh thần khác: công quyền và công dân đều phải chịu trách nhiệm như nhau trước pháp luật.

Tinh thần bình đẳng cần phải được coi là một giá trị đạo đức của người công dân trong xã hội hiện đại ở Việt Nam. Tinh thần bình đẳng sẽ làm cho cá nhân sống trong xã hội thực sự là người công dân chứ không phải là người thần dân. Điều này giúp ích cho việc khai thông các tiềm năng của xã hội. Tinh thần bình đẳng, bản thân nó là động lực của sự phát triển xã hội, và nó cũng là một giá trị đạo đức làm cho sự phát triển xã hội được bền vững. Khi tinh thần bình đẳng ngự trị trong xã hội, mọi tiềm năng thuộc mọi lĩnh vực, thuộc mọi ngành, mọi giới, mọi loại người sẽ được sử dụng. Điều này sẽ tạo ra tổng lực cho sự phát triển xã hội. Hơn nữa, bình đẳng cũng giữ cho sự phát triển xã hội ở thế ổn định, bền vững. Sự mâu thuẫn, sự khủng hoảng sẽ diễn ra ở một cộng đồng, tổ chức nào không phát triển dựa trên tinh thần bình đẳng.

Tinh thần khoan dung. Trong xã hội công dân, công dân đủ tư cách, có tinh thần công dân phải kiên quyết chống lại bất cứ hành vi thiếu khoan dung nào đối với mọi quan niệm giá trị, thế giới quan, phương thức và tập quán sinh hoạt, tín ngưỡng tôn giáo… Chỉ cần pháp luật cho phép hoặc không bị pháp luật cấm, đều phải có thái độ bao dung. Bởi vì mọi người bình đẳng trước pháp luật nên người ta có quyền tự do lựa chọn phương thức sống cho bản thân họ trên cơ sở không vi phạm pháp luật, không phương hại lợi ích của xã hội và cá nhân khác. Mỗi công dân trong xã hội công dân đều phải có tấm lòng và giáo dưỡng để khoan dung những điều mình cảm thấy trái ý, lạ lẫm. Xét khắp đông tây kim cổ, mỗi tiến bộ nhỏ bé trong quá trình phát triển văn minh loài người, thực ra đều bắt nguồn từ một nhóm người tách ra khỏi những tư tưởng và cuộc sống quen thuộc của đại đa số, cho mãi đến khi phương thức mà lúc đầu bị coi là trái ý, lạ lẫm của nhóm người đó được đa số tán đồng, làm theo và hoàn toàn tiếp thu. Từ đó mới trở thành sự đổi mới quan niệm tư tưởng và phương thức sinh hoạt của toàn xã hội. Công dân phải khéo biết chấp nhận ý kiến bất đồng, bởi chỉ có “trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng” thì chân lý mới bộc lộ ra được. Khoan dung không có nghĩa là tán thành một loại tư tưởng nào, mà là nhận thức đối với giá trị tinh thần khoan dung. Bởi điều chúng ta hướng tới là hòa bình, mà chỉ có khoan dung mới tạo ra và bảo đảm sự hòa hòa của xã hội. Có hài hòa mới có hòa bình. Có hòa bình mới có phát triển xã hội[13].

Đạo lý min, đạo lý tôn trọng cộng đồng không khuyến khích tinh thần khoan dung. Do trọng cộng đồng, khác biệt với cộng đồng được coi là một phản giá trị. Do đó, những cá tính lạ, những lối ứng xử khác biệt với đa số thường không được ủng hộ[14]. Khoan dung là một giá trị cần thiết cho sự phát triển của xã hội Việt Nam. Khoan dung sẽ giải phóng cá tính, tạo cơ hội cho những sai biệt có thể bứt phá thành giá trị chung cần thiết cho phát triển xã hội. Xã hội sẽ không phát triển được nếu tất cả mọi người cùng một lối sống, cùng một lối nghĩ. Khoan dung sẽ đa dạng hóa ý kiến, lối sống. Điều này sẽ đa dạng hóa nguồn phát triển xã hội. Khoan dung cũng tạo ra sự dung hòa xã hội. Sự dung hòa sẽ không làm cho sự phát triển rơi vào khủng hoảng. Như vậy, khoan dung sẽ làm cho xã hội phát triển trong ổn định.

Tinh thần pháp quyền. Người Việt đã làm quen với pháp luật từ rất sớm. Nhưng pháp luật, trong con mắt của người Việt cổ truyền, không có được cái nhìn thiện cảm. Pháp luật xưa vốn là công cụ để vua chúa trị dân. Chính vì vậy, dân miễn cưỡng phải nghe theo pháp luật. Bước vào xã hội hiện đại, tinh thần pháp chế tiếp tục cổ vũ cho thái độ tuân thủ pháp luật của người dân. Pháp luật vẫn được nhìn nhận là thứ mà người dân phải tuân thủ. Cách nhìn nhận như vậy không thích hợp với một xã hội hiện đại. Thay vì tinh thần pháp chế, người công dân hiện đại cần phải có tinh thần pháp quyền. Pháp luật không chỉ là thứ ép buộc của nhà nước đối với xã hội mà là một hình thức xác lập một cách chính đáng các quyền của người dân. Vì vậy, công dân, với tư cách là cá nhân được thừa nhận các quyền công cộng căn bản, chỉ có thể hành xử các quyền của mình theo pháp luật. Do đó, là một công dân thì đương nhiên phải sống theo pháp luật. Nhưng sống theo pháp luật ở đây không phải là miễn cưỡng tuân thủ pháp luật mà là chủ động sử dụng pháp luật để bảo vệ mình và phát triển cuộc sống cá nhân của mình. Tóm lại, tinh thần pháp quyền của người công dân hiện đại là tinh thần chủ động dùng pháp luật để bảo vệ mình trước nguy cơ lạm quyền của công quyền (chủ yếu là luật công), và để phát triển cuộc sống của chính mình (chủ yếu là luật tư).

Cách thức để xây dựng nhân cách mới của con người Việt Nam trước tiên là việc cho phép chính thức vạch ra những sở đoản trong căn tính của người Việt đang cản trở tiến trình hiện đại hóa con người Việt Nam. Công khai chỉ ra những nhược điểm của dân tộc là một cách hữu hiệu để hiện đại hóa dân tộc. Cuốn sách “Người Mỹ xấu xí” sau khi ra đời đã được Quốc hội Mỹ dùng làm tài liệu tham khảo cho sách lược của mình. Tác giả Bá Dương người Trung Quốc cũng đã công bố cuốn “Người Trung Quốc xấu xí”. Tuy nhiên, không phải vì vậy mà người Mỹ và người Hoa bị coi là xấu xí. Chỉ ra những cái “xấu xí” của mình là một cách buộc mình phải cải biến. Việt Nam chưa có một cuốn sách tương tự, nhưng trên các diễn đàn, người ta đã nói nhiều về “những thói hư, tật xấu của người Việt”. Đây là một điều rất có giá trị giúp người Việt phát triển. Đã có một cuốn sách đáng chú ý tập hợp các bài viết về chủ đề này là “Người Việt- phẩm chất và những thói hư, tật xấu”[15]. Nhưng các bài viết trong cuốn sách này chưa đi vào những vấn đế tố chất dân tộc có ảnh hưởng đến sự phát triển của dân tộc, chưa đi vào căn nguyên mà thường đi vào những biểu hiện. Việc nghiên cứu về tố chất dân tộc cần phải được triển khai một cách quy mô hơn, có chiều sâu hơn, đi vào những vấn đề thuộc tố chất dân tộc có thể cản trở sự phát triển của xã hội.

Trong tiến trình hiện đại hóa xã hội Trung Quốc, một việc làm đáng quan tâm của giới học thức, trong vai trò phản biện xã hội, là vạch ra những nhược điểm của người Trung Quốc. Họ không chỉ viết “người Trung Quốc xấu xí” mà còn “Người Trung Quốc tự trào”, rồi mạnh mẽ hơn là “Sự khủng hoảng của tố chất quốc dân Trung Quốc”,”Người Trung Quốc và những căn bệnh trong nhân cách”… Điểm xuyên suốt của các công trình này là người Trung Quốc thiếu tinh thần công dân, và kêu gọi xây dựng một thế kỷ công dân với những chuẩn mực đạo đức mới. Đây là một bài học mà người có trách nhiệm phản biện xã hội ở Việt Nam cần lưu tâm. Người Việt cũng đã trải qua một xã hội thần dân với một lịch sử khá dài và di ảnh của nó trong xã hội hiện đại còn khá mạnh mẽ. Người phản biện xã hội cần chỉ ra một cách thuyết phục rằng, người Việt có thiếu tinh thần công dân không, ở chỗ nào, và đề xuất những chuẩn mực đạo đức mới cần thiết cho xã hội công dân: nhân cách độc lập, tinh thần bình đẳng, tinh thần khoan dung, và tinh thần pháp quyền.

Việc hình thành con người Việt Nam hiện đại không giản đơn là sửa một vài đạo luật trong một vài kỳ họp Quốc hội, mà đòi hỏi sự nỗ lực của cả dân tộc trong một vài thế hệ. Lão Tử có câu “Tín ngôn bất mỹ, mỹ ngôn bất tín” (Lời nói đúng thì không được đẹp, lời nói đẹp thì không được đúng). Đã đến lúc cần phải quen với việc nghe những lời nói đúng, mặc dù không đẹp tai, đẹp lòng.

[1] Đỗ Lai Thúy, Từ cái nhìn văn hóa. NXB Văn hóa dân tộc, H, 1999, tr.41-42.
[2] Tổ chức Seagame ở Việt Nam, ta cũng lấy con trâu vàng làm biểu tượng.
[3] Đến bây giờ cũng vậy: phát biểu trong Hội nghị, dù là lời nói của mình nhưng vẫn phải xưng là “chúng tôi”; tác giả nào viết lách mà tự xưng “tôi” thì khi công bố người biên tập cũng chữa thành “chúng tôi”.
[4] Cao Xu©n Huy. T t ëng Ph ¬ng §«ng – gîi nh÷ng ®iÓm nh×n tham chiÕu. NXB V¨n häc, 1995; TrÇn §×nh H îu. §Õn hiÖn ®¹i tõ truyÒn thèng. NXB V¨n ho¸, H, 1995; Phan Ngäc. B¶n s¾c v¨n ho¸ ViÖt Nam. NXB V¨n häc, H, 2002; §ç Lai Thuý. Tõ c¸i nh×n v¨n ho¸. NXB V¨n ho¸ d©n téc, H, 1999.
[5]Trần Đình Hượu. Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại. NXB Văn hoá, 1996, tr28-29.[6]Đỗ Lai Thuý. Trần Đình Hượu- như một ngọn gió. Nguồn: http://www.talawas.org
[7] Dẫn theo: Hà Tông Tư. Người Trung Quốc và những căn bệnh trong nhân cách. (Phạm Bá Dịch). NXB Công an nhân dân, H, 2007.
[8] Dẫn theo: Giải Tư Trung. Sự khủng hoảng của tố chất quốc dân Trung Quốc. NXB Công an nhân dân, H, 2007, tr.15.
[9] Giải Tư Trung. Sự khủng hoảng của tố chất Trung Quốc. (Trần Ngọc Thái dịch) NXB Công an nhân dân, H, 2007, tr.264-265.
[10] Abert Einstein. Thế giới như tôi thấy. NXB Tri thức, H, 2005, tr.22-24.
[11] Hà Tông Tư. Người Trung Quốc và những căn bệnh trong nhân cách. (Phạm Bá Dịch). NXB Công an nhân dân, H, 2007, tr.23-24.
[12] TS. Phạm Duy Nghĩa lên tiếng nhân chuyện cách đây vài năm, khi một quan chức quên chiếc cặp đựng tiền ở sân bay đã giãi bày rằng tiền đó được bàn bè gửi nhờ mua sừng tê giác; đến nay, vừa có thêm nữ Bí thư thứ nhất Vũ Mộc Anh bị truyền hình nước bạn ghi lại cảnh tham gia buôn sừng tê giác, ngay trước sứ quán Việt Nam tại Nam Phi. (Sài Gòn Tiếp Thị, 21/11/2008)
[13] Hà Tông Tư. Người Trung Quốc và những căn bệnh trong nhân cách. (Phạm Bá Dịch). NXB Công an nhân dân, H, 2007, tr.42-44.
[15] Người Việt, phẩm chất và những thói hư tật xấu. NXB Thanh niên và Báo Tiền phong, H, 2008.

Bùi Ngọc Sơn.
Bùi Ngọc Sơn, Nghĩ lại và tái tạo mình, tạp chí nghiên cứu lập pháphttp://www.nclp.org.vn/ben_hanh_lang_lap_phap/nghi-lai-va-tai-tao-minh
Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: